Đơn khởi kiện

Giá trị tài sản có tranh chấp     Mức án phí

Từ 4.000.000 đồng trở xuống     200.000 đồng
Từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng     5% giá trị tài sản có tranh chấp
Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng     20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng
Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng     36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng
Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng     72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng
Từ trên 4.000.000.000 đồng     112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng
 
Quy trình thực hiện thủ tục khởi kiện theo bộ luật tố tụng dân sự 2015

Thủ tục khởi kiện sẽ được chia làm 03 giai đoạn: Nộp đơn khởi kiện và đóng tạm ứng án phí; Chuẩn bị xét xử; Tranh tụng trong phiên tòa sở thẩm. Trong đó:
Quy định về việc nộp đơn khởi kiện

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án. Đơn khởi kiện có thể gửi tới Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo 03 phương thức: Nộp trực tiếp tại. Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính; Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).



Quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử

Thời hạn chuẩn bị xét xử là 02 – 04 tháng, trường hợp có tình tiết phức tạp thì thời hạn chuẩn bị xét cử có thể bị kéo dài. Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng tùy từng loại tranh chấp.

Kỹ năng thực hiện thủ tục khởi kiện tranh chấp dân sự tại Tòa án

Người dưới 15 tuổi, người bị mất năng lực hành vi dân sự, thì việc bảo vệ quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của họ tại Tòa án do người đại diện theo pháp luật thực hiện. Người tử đủ 15 tuổi - chưa đủ 18 tuổi, nếu đã tham gia hợp đồng lao động hoặc thực hiện các giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình thì có thể tự mình tham gia tố tụng và có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Những quan hệ khác thì việc bảo vệ quyền, nghĩa vụ của họ do người đại diện theo pháp luật thực hiện. Trường hợp cá biệt: Đối với nữ giới từ 18 tuổi cho đến dưới 18 tuổi (từ 17 tuổi + 1 ngày - 17 tuổi 364 ngày) nếu đã kết hôn mà có yêu cầu ly hôn trong thời gian này thì có quyền tự mình tham gia tố tụng và có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng trong quan hệ hôn nhân.
Thủ tục khởi kiện tranh chấp lao động

Thủ tục khởi kiện tranh chấp lao động yêu cầu phải tiến hành qua thủ tục hòa giải lao động cơ sở hoặc người khởi kiện có tài liệu chứng minh các bên trong tranh chấp đã yêu cầu hòa giải nhưng Hội đồng hòa giải lao động cở sở không tiến hành hòa giải trong thời gian 07 ngày.
Thủ tục khởi kiện tranh chấp đất đai

Hiện nay khi khởi kiện tranh chấp đất đai vụ án không bắt buộc phải tiến hành hòa giải tại UBND phường, xã, thị trấn như quy định cũ, đây là một trong các điểm mới giải quyết sự tồn đòng trong việc giải quyết tranh chấp lĩnh vực này. Trường hợp trong vụ án tài liệu chứng minh cho việc tranh chấp là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị cấp sai thì bạn nên thực hiện thủ tục khởi kiện định hành chính cho việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước khi khởi kiện tranh chấp đất đai.

Đơn khởi kiện


Tuỳ tính chất của vụ việc mà đơn khởi kiện sẽ có các tên gọi khác nhau:

– Đơn khởi kiện dân sự: Là mẫu đơn sử dụng trong việc khởi kiện các vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết các tranh chấp dân sự.

– Đơn khởi kiện hành chính: Là mẫu đơn sử dụng trong việc khởi kiện các vụ án hành chính, khởi kiện người và cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hành chính trái pháp luật.

– Đơn khởi kiện tranh chấp đất đai, đơn khởi kiện tranh chấp tài sản: Bản chất chính là đơn khởi kiện vụ án dân sự, giải quyết các tranh chấp dân sự. Tuy nhiên, 02 loại tranh chấp đất đai và tranh chấp tài sản là hai loại tranh chấp phổ biến nên đơn được đặt tên theo loại tranh chấp.

Thủ tục khởi kiện tranh chấp hợp đồng kinh tế, hợp đồng mua bán hàng hóa

Khi khởi kiện tranh chấp hợp đồng người nộp đơn khởi kiện đặc biệt lưu ý đến điều khoản lựa chọn luật áp dụng giải quyết tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án ghi nhận trong hợp đồng. Đây là những điều khoản ảnh hưởng nhiều đến quá trình tạo lợi thế trong đàm phán, thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp đồng thời cũng là căn cứ để giải quyết vụ án theo quy trình tố tụng tại Tòa án.

Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự
Điều kiện về chủ thể khởi kiện

Người khởi kiện phải có tư cách pháp lý khởi kiện(cá nhân, cơ quan, tổ chức)

- Cá nhân: phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự, trường hợp đặc biệt

+ Là người đủ 15 tuổi có tài sản riêng, có tranh chấp kiện ra tòa và có thể tự mình làm.

+Trong một số hợp đồng lao động thì cần đủ 15 tuổi có thể tự mình làm đơn khởi kiện, đồng thời họ có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, tranh chấp.

- Tổ chức khởi kiện:

+ Tổ chức đó có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc tranh chấp

+ Việc khởi kiện phải thông qua người đại diện hợp pháp
Vụ án khởi kiện phải đúng thầm quyền

- Người khởi kiện phải khởi kiện đúng thầm quyền của Tòa án

+ Đúng loại việc

+ Đúng loại việc thuộc thẩm quyền của tòa án

+ Đúng thẩm quyền theo lãnh thổ

- Người khởi kiện chỉ được khởi kiện những vụ án chưa được giải quyết bằng một bản án đã có hiệu lực của pháp luật theo nguyên tắc khởi kiện một lần. Trừ một số trường hợp ví dụ: đối vụ án xin ly hôn, không đủ chứng cứ ly hôn, tòa bác đơn. Sau 1 năm xin ly hôn vẫn được.

Bảo đảm quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự là một nguyên tắc quan trọng trong tố tụng dân sự. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi đơn yêu cầu đó. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội (Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Tuy nhiên, trong thực tiễn tố tụng dân sự tại các Tòa án, việc thực hiện nguyên tắc này còn nhiều cách vận dụng, áp dụng khác nhau, nhất là trong việc ủy quyền cho người khác khởi kiện thay. Trong phạm vi bài viết này, tác giả nêu lên ví dụ về một vụ việc cụ thể và các quan điểm khác nhau trong việc có nhận đơn, có thụ lý đơn khởi kiện do người ủy quyền ký đơn khởi kiện hay không.

Đầu tư nước ngoài



Nội dung vụ việc: Tháng 12/2016, ông Trịnh Hoài P (đang sống ở Canada) làm giấy ủy quyền cho ông Trịnh Phương Đ được quyền khiếu kiện đòi lại 08 sào đất ruộng mà theo ông P thì ông N đang quản lý, sử dụng. Giấy ủy quyền được chứng nhận tại Canada trước khi gửi về Việt Nam. Căn cứ giấy ủy quyền này, ông Đ ký và nộp đơn khiếu kiện việc tranh chấp quyền sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân phường. Sau đó, do hòa giải không thành nên Ủy ban nhân dân phường hướng dẫn các bên khởi kiện ra Tòa. Ngày 21/6/2017, ông Đ ký đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất gửi cho Tòa án nhân dân thành phố NT, tỉnh K và đã được Tòa án nhân dân thành phố NT thụ lý giải quyết[1].

Xoay quanh tình huống pháp lý này còn nhiều quan điểm khác nhau trong việc áp dụng quy phạm pháp luật để giải quyết vụ án:

Quan điểm thứ nhất: Cá nhân được ủy quyền tham gia tố tụng, chứ không quy định người được ủy quyền được ký đơn kiện thay người khởi kiện. Quan điểm này cho rằng, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa cho phép người đại diện theo ủy quyền được quyền ký đơn khởi kiện. Tức là, cá nhân không được quyền ủy quyền khởi kiện mà chỉ được quyền ủy quyền tham gia tố tụng. Cụ thể, Điều 5, Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Người khởi kiện là cá nhân thì phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khởi kiện.

Quan điểm thứ hai: Ông Đ là người đại diện theo ủy quyền của ông P bằng văn bản ủy quyền được chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền tại Canada là phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Ông Đ là người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự nên việc ký vào đơn khởi kiện là không trái với quy định của Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai, bởi các cơ sở lý luận, thực tiễn và pháp lý sau đây:

Thứ nhất, xét quy phạm pháp luật về quyền khởi kiện

Quyền khởi kiện trong tình huống pháp lý này phải thuộc về ông P và trường hợp ông P khởi kiện thì đương nhiên ông là nguyên đơn dân sự trong vụ kiện tranh chấp quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, do ông đang ở Canada, không có điều kiện khởi kiện nên ông ủy quyền lại cho ông Đ giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, trong đó bao gồm cả quyền khởi kiện là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam. Phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng dân sự